DANH BẠ ĐIỆN THOẠI
Là ứng dụng cho phép tra cứu các thông tin về thuê bao điện thoại cố định mọi lúc mọi nơi bằng điện thoại di động. Ứng dụng có nguồn dữ liệu rất lớn và đa dạng, bao gồm thông tin thuê bao điện thoại cố định trong cả nước của nhiều nhà cung cấp dịch vụ. Cơ sở dữ liệu của ứng dụng liên tục được cập nhật để có được thông tin mới nhất, chính xác nhất.
MÃ SỐ THUẾ
Là ứng dụng dùng để tra cứu Mã số thuế doanh nghiệp, Mã số thuế cá nhân cùng những thông tin đầy đủ đi kèm. Ứng dụng có nguồn dữ liệu chính xác và cập nhật liên tục theo dữ liệu của Tổng cục thuế.
THUÊ - MUA NHÀ ĐẤT
Là ứng dụng nhằm tạo môi trường làm việc trực tuyến giữa người mua nhà đất và người bán, người cho thuê nhà đất và người thuê trên di động.
- Người mua có thể xem tin đã đăng của người bán và đăng thông tin cần mua của mình.
- Người bán có thể đăng thông tin bán và xem thông tin của người mua phù hợp...

Nội dung tin

Monday, 08-06-2020

“TỪ ĐIỂN CHÍNH TẢ” SAI CHÍNH TẢ! (*): Nhiều lỗi nặng đến khó tin

Các tác giả có những nhầm lẫn giữa cách viết từng tồn tại hoặc “không chuẩn với chính tả chuẩn”, cùng nhiều nhầm lẫn khác

Chúng tôi tiếp tục dẫn ra những ví dụ sai chính tả của cuốn sách “Từ điển chính tả tiếng Việt” (PGS-TS Hà Quang Năng chủ biên - ThS Hà Thị Quế Hương; NXB ĐHQG Hà Nội - 2017).

“TỪ ĐIỂN CHÍNH TẢ” SAI CHÍNH TẢ! (*): Nhiều lỗi nặng đến khó tin - Ảnh 1.

24 - “TÁNG: táng gia bại sản” 

Viết đúng là “TÁN gia”. Vì “TÁN” 散 là từ gốc Hán, có nghĩa tiêu tan, mất mát. Tán gia bại sản 散 家 敗 產 = gia đình tan nát, tài sản tiêu tan (Dị bản gốc Hán: khuynh gia bại sản - 傾 家 敗 產).

25 - “TRƯỜNG: xa trường” 

Viết đúng là “SA trường”. “Sa trường” 沙 場 là từ Việt gốc Hán, trong đó “sa” 沙 nghĩa gốc là “cát”, “bãi cát ven sông”. “SA trường” 沙 場 = bãi cát bằng mà rộng, thường dùng để chỉ chiến trường.[K]

26 - “TRƯỞNG: trưởng bạ”

Viết đúng là “Chưởng bạ”, vì “chưởng” 掌 nghĩa là nắm, giữ; “chưởng bạ” 掌 簿 = người nắm giữ sổ sách giấy tờ; cũng như “chưởng ấn” 掌 印 = người giữ ấn tín. Có thể do nhóm soạn giả thu thập trong “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” (GS Nguyễn Lân).

27 - “XẨY: xẩy chân; xẩy đàn tan nghé; xẩy nhà ra thất nghiệp” 

Mục “XẨY” có ba từ ngữ đều sai cả. “XẨY” (hay xảy) là dùng trong “xảy ra” (sự việc), khác với “SẨY” nghĩa là mất mát, rơi rụng, lỡ hụt, lìa tan… Ví dụ, “Sẩy vai xuống cánh tay”, “Sẩy miệng, buột lời”, “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”, “Con cá sẩy là con cá to”… Theo đây, viết đúng phải là “SẨY chân”, “SẨY đàn tan nghé”, “SẨY nhà ra thất nghiệp”.[K]

28 - “XẢY: xảy đàn tan nghé; xảy tay” 

Lỗi “S” thành “X” lặp lại ở mục này, chứng tỏ cái sai của các soạn giả không phải là “sơ sảy”. 

29 - “XẺ: xẻ cơm nhường áo”

Viết đúng phải là “SẺ cơm nhường áo”. Vì “SẺ” đây chính là “sẻ” trong “san sẻ”, “chia sẻ”.

30 - “XỈ: xỉ mắng; xỉ nhục”

Viết đúng phải là “SỈ mắng”, “SỈ nhục” 恥 辱, vì “SỈ” 恥 là yếu tố gốc Hán, có nghĩa là làm cho nhục nhã.[K]

31 - “XỈA: xưng xỉa”

Viết đúng là “SƯNG SỈA”. Đây là từ ghép đẳng lập: “sưng” = phồng, phù da thịt lên (như sưng mặt; sưng phù); “sỉa” = sưng phù lên (như sỉa chân, mặt sưng mày sỉa).[K] 

32 - “XOA: xít xoa”

Viết đúng là “xuýt xoa” (“XUÝT” = phát ra tiếng gió trong miệng; “xoa” = dùng tay mơn nhẹ vết thương hoặc xoa lại với nhau, tỏ vẻ đau đớn, kinh ngạc hay tiếc nuối…).[K] 

33 - “REO: reo rắc”

Viết đúng là “gieo rắc” - từ ghép đẳng lập: “gieo” đồng nghĩa với “GIEO” trong “gieo hạt” + “RẮC” trong “rắc hạt”.[K] 

34 - “XOÀI: xóng xoài”

Viết chuẩn là “SÓNG SOÀI”, (cũng như viết “sóng sượt”, không phải “xóng xượt”). 

35 - “TRỪU: trừu mến”

Viết đúng là “TRÌU mến”. Vì “TRÌU” biến âm của “TRÍU”, nghĩa là thương mến, không muốn rời ra. “Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức) mục “trìu mến” hướng dẫn xem “tríu-mến”: Trìu-mến, yêu-thương như ghiền (nghiện) hơi, khiến quấn-quýt một bên luôn: Đem lòng tríu-mến”.[K]

36 - “XỌM: già xọm” 

Viết đúng là “già sọm” (SỌM = gầy, già yếu, hom hem).[K] 

37 - “XỘ: xừng xộ”

Viết đúng là “sừng sộ”, vì “SỪNG” nghĩa là gườm nhau, khiêu khích, chực ăn thua với nhau.[K]

38 - “XỚI: xới chọi gà” 

Viết “SỚI” mới đúng. Vì “sới” trong “SỚI chọi gà” chính là “sới” trong “sới vật”, “sới võ”, mà Vietlex giảng là: “khoảng đất được bố trí làm nơi đấu vật hoặc chọi gà, chọi chim để tranh giải trong ngày hội”.[K] 

39 - “XUẤT: khinh xuất” 

Viết đúng là “khinh suất” 輕 率. Đây là từ ghép đẳng lập gốc Hán: “khinh” 輕 = xem nhẹ; “SUẤT” 率= hấp tấp, không thận trọng.

40 - “XỨ: xứ bộ” 

Chỉ có “SỨ bộ”, không có “XỨ bộ” (Vietlex: “sứ bộ” 使 部 d. [cũ] phái đoàn đi sứ thời phong kiến”).[K]

41 - “XỰC: mũi xực lên; thơm xực”. 

Viết đúng là “SỰC lên”, “thơm SỰC”.[K]

Trở lên là gần 60 lỗi ở dạng sai chính tả đơn thuần, trong đó phần lớn là những lỗi nặng. Dĩ nhiên, đây không phải là tất cả những lỗi mà chúng tôi đã phát hiện, hay những lỗi có trong sách.

“TỪ ĐIỂN CHÍNH TẢ” SAI CHÍNH TẢ! (*): Nhiều lỗi nặng đến khó tin - Ảnh 2.
“TỪ ĐIỂN CHÍNH TẢ” SAI CHÍNH TẢ! (*): Nhiều lỗi nặng đến khó tin - Ảnh 3.
“TỪ ĐIỂN CHÍNH TẢ” SAI CHÍNH TẢ! (*): Nhiều lỗi nặng đến khó tin - Ảnh 4.

Cuốn “Từ điển chính tả tiếng Việt” lại sai nhiều lỗi chính tả. Trong ảnh: Vài trang có lỗi chính tả tiêu biểu

B - Nhầm lẫn giữa cách viết cũ từng được ghi nhận, với “chính tả chuẩn” hiện hành:

Ở phần “Lời nói đầu”, nhóm soạn giả ghi rõ: “Từ điển chính tả tiếng Việt được biên soạn nhằm cung cấp các dạng chính tả chuẩn của các từ ngữ thông dụng theo chính âm và chính tả tiếng Việt, đồng thời cũng chỉ dẫn những dạng chính tả không chuẩn nhưng vẫn được sử dụng.” (HTC nhấn mạnh).

Tuy nhiên, trong thực tế, nhóm soạn giả đã đánh đồng, hoặc nhầm lẫn giữa cách viết từng tồn tại hoặc “không chuẩn nhưng vẫn được sử dụng”, với “chính tả chuẩn [… theo chính âm và chính tả tiếng Việt]”. Ví dụ:

 - “GIỘP (cv. rộp): giộp da, giộp lưỡi, giộp nước sơn >< bỏng giộp”.

- “GIA: gia giết (cv. da diết)”.

“Giộp”, “gia giết” là cách viết cũ. Bởi vậy, lẽ ra nên hướng dẫn “thường viết” hoặc “nên viết” “RỘP”, “DA DIẾT”…, thì soạn giả lại hướng dẫn “cũng viết” “RỘP”, “cũng viết” “DA DIẾT”, biến cách viết cũ, không chuẩn, thành cách viết chuẩn và ngược lại. 

Thậm chí, mục “DÔ hướng dẫn viết “dã dượi” (đây là cách viết cũ, có được từ điển ghi nhận nhưng không có nghĩa là “chính tả chuẩn”). Đến mục “RÔ, lại hướng dẫn viết “rã rượi”, đặt người dùng sách vào sự may rủi khi tra cứu. Bởi lẽ, cùng trong một sách nhưng chỗ này thì đúng, còn chỗ khác thì sai (tình trạng này khá nhiều trong sách).

C - Nhầm lẫn hai từ đồng nghĩa với một từ có hai dạng chính tả: 

Ở phần “Phụ lục 3 - Danh sách các từ ngữ có hai dạng chính tả đều được chấp nhận trong tiếng Việt” (50 trang), một số dạng như: “biệt tăm - bặt tăm”; “bột phát - bộc phát”… có thể chấp nhận được. Song, phần lớn soạn giả nhầm lẫn, đánh đồng những cặp từ gần nghĩa, đồng nghĩa không hoàn toàn trong mọi trường hợp với “các từ ngữ có hai dạng chính tả”. Như: “bàn hoàn - bàng hoàng”; “đại thụ - đại thọ”; “đông nghịt - đông nghẹt”; “mất lòng - mích lòng”... Thực tế, “mất lòng” và “mích lòng” là hai từ không đồng nghĩa hoàn toàn. Ví như có thể viết “mất lòng dân”, chứ không viết “mích lòng dân”. 

Tương tự, hàng loạt từ láy và không láy bị soạn giả xếp vào “các từ ngữ có hai dạng chính tả”, như: “tôi tối - tối”; “trăng trắng - trắng”; “vun vút - vút”… Những cặp từ này không phải hai dạng chính tả. Ví dụ: “vun vút” là nhanh và liên tiếp, còn “vút” chỉ là nhanh…

Một cuốn tiểu thuyết hơn 700 trang mà bạn đọc vấp phải khoảng 50 lỗi sai chính tả có gọi là nhiều không? Dĩ nhiên là nhiều, và rất khó chấp nhận. Với một cuốn từ điển chính tả có cùng số trang, với yêu cầu phải “khuôn vàng thước ngọc” mà lại phạm chừng gấp đôi, gấp ba số lỗi ấy, thì lại càng khó chấp nhận, đúng hơn là không thể chấp nhận! 

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 7-6

HOÀNG TUẤN CÔNG

    www.1068.vn - www.1068.info.vn
    Copyright @ 2005 - 2014 VIETSOFT VISION. All rights reserved.